Những biến chứng nghiêm trọng của bệnh viêm xoang

Mọi người đều biết viêm xoang là bệnh rất thường gặp ở nước ta, nhưng đa phần vẫn cho viêm xoang chỉ gây khó chịu, ảnh hưởng đến sinh hoạt mà chưa quan tâm đầy đủ đến các ảnh hưởng, tác hại, có khi nguy hiểm đến tính mạng với các biến chứng của viêm xoang.

Xem thêm: Bài thuốc chữa khỏi triệt để bệnh viêm xoang mũi mạn tính

Theo mức độ thường gặp, các biến chứng của viêm xoang chia ra làm 3 nhóm:

  • Biến chứng đường thở
  • Biến chứng ở mắt
  • Biến chứng nội sọ hay biến chứng ở não.
biến chứng bệnh viêm xoang

Viêm xoang có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng

1. Biến chứng đường thở

Là biến chứng thường gặp nhất, có những biến chứng dễ biết như ho kéo dài, đau rát cổ họng do ngạt tắc mũi, chảy mũi mủ nhưng nhiều biến chứng ít được biết đến hay nghĩ là không phải do viêm xoang.

Các biến chứng đường thở được nhắc tới nhiều là:

– Viêm họng: đối với cả viêm xoang cấp và viêm xoang mạn, viêm họng gần như bệnh đi kèm vì:

  • Ngạt, tắc mũi nhất là đối với viêm xoang cấp thường ngạt, tắc cả hai bên, viêm xoang mạn khi có pôlip gây ngạt tắc mũi kéo dài, thường xuyên làm người bệnh phải thở bằng mồm để hít lượng oxy theo nhu cầu – không khí không qua mũi không được làm ấm, làm ẩm và làm sạch sẽ ảnh hưởng tới họng
  • Mặt khác do chảy mũi mủ hoặc trực tiếp xuống họng (trong viêm xoang sau, đa viêm xoang), hoặc do không biết xì mũi (ở trẻ em) hay không tiện xì mũi (ở người lớn đang giao tiếp, làm việc) mà thường khịt mũi, hít mũi mủ xuống họng dễ đưa tới viêm họng

Có thể gặp nhiều thể viêm họng

  • Viêm họng cấp: với đau, rát họng rõ rệt thường gặp trong viêm xoang cấp hay viêm xoang mạn đợt cấp. Đặc biệt với trẻ có VA mủ từ mũi xoang chảy xuống họng luôn đọng, bám lại ở VA (nằm giữa mũi và họng) gây viêm VA cấp, với người trẻ mủ bám ở họng dễ đưa tới viêm amidan cấp.
  • Viêm họng mạn: viêm xoang mạn luôn đưa tới viêm họng mạn với các triệu chứng ngứa, rát họng, họng luôn có đởm, mủ, có mùi hôi, khó chịu. Do mủ từ xoang chảy xuống thường xuyên kích thích niêm mạc họng làm các hạt lympho ở thành sau họng to, đỏ, nhiều lên đưa tới viêm họng hạt. Trong trường hợp cần lưu ý nếu không giải quyết viêm xoang, chỉ nhìn thấy hiện tượng tại chỗ, thực hiện đốt họng hạt, bất kể bằng phương tiện gì, đốt điện (nóng), đốt lạnh (với nito lỏng …) hay đốt họng bằng laze đều gây hại vì sau đó vài ngày do mủ trên xoang vẫn chảy xuống họng làm tổn thương ở họng tăng, dễ đưa tới viêm tấy mủ họng.
  • Loạn cảm họng: viêm xoang, đặc biệt viêm xoang sau là một trong những nguyên nhân thường gây các cảm giác khó chịu ở họng như đau nhói từng lúc, vướng mắc như bị hóc xương … mà khi khám họng không thấy tổn thương gì nên được gọi chung là loạn cảm họng.

Loạn cảm họng có nhiều yếu tố gây nên nhưng lưu ý khi có loạn cảm họng cần khám, chụp Xquang để phát hiện viêm xoang sau.

– Viêm thanh quản: ở những người bị viêm da xoang, nhất là viêm xoang sau mạn dễ đưa tới viêm thanh quản với các triệu chứng chủ yếu ho – khàn tiếng.

  • Viêm thanh quản cấp: có thể gặp trong các đợt cấp của viêm xoang mạn, hay trong viêm xoang cấp nhất là ở trẻ nhỏ do trẻ không biết nhổ, mũi mủ trên xoang chảy xuống, do thường nằm nhất là khi viêm xoang gây mệt mỏi.

Với trẻ đến 5 tuổi cần biết đến thể viêm thanh quản đặc biệt chỉ có sốt, ho, tiếng khóc, nói không bị khàn hay chỉ khàn nhẹ nhưng đưa tới khó thở nhiều được gọi là viêm thanh quản dưới thanh môn là thể nặng, diễn biến nhanh, đưa tới viêm phổi, có thể nguy hại tới tính mạng nếu không được phát hiện xử trí đúng. Trẻ bị thể này cần được nằm điều trị cấp cứu tại bệnh viện

  • Viêm thanh quản mạn: với tình trạng tiếng nói khàn, giọng không trong, nói, hát không vang, chóng bị mệt, mất tiếng, hay bị ho, có đờm vướng … cũng thường gặp ở người bị viêm xoang mạn. Điều trị trở lại bình thường nhưng khi mệt, thay đổi thời tiết, lại bị trở lại, không dứt hẳn gây khó chịu trong giao tiếp.
  • U lành thanh quản: với những người lấy tiếng nói làm công cụ lao động chính như giáo viên, bán hàng, phát thanh viên, diễn viên thường xuyên phải nói nhiều, nói to, bị viêm xoang mạn có tỷ lệ bị hạt xơ dây thanh, u nang dây thanh … cao hơn rõ rệt. Tuy là u lành nhưng kéo dài đưa tới khàn, mất tiếng, không tiếp tục hành nghề được.

– Viêm đường hô hấp dưới:

  • Viêm khí phế quản cấp với các triệu chứng ho, khó thở, … ở trẻ em khó thở rõ, có tiếng khò khè, thở rít được xếp vào dạng viêm khí phế quản co thắt với các cơn về đêm, thường xuyên hàng tuần, hàng tháng, không điều trị hết hẳn được nếu chưa phát hiện và giải quyết được viêm xoang.
  • Viêm phế quản mạn là biến chứng thường gặp của viêm xoang sau ở người lớn nhất là với người cao tuổi với dấu hiệu ho dai dẳng, ho nhiều về đêm, ho có nhiều đờm, mủ. Viêm phế quản mạn với viêm xoang sau được gọi là hội chứng Mounier – Kuhn. Đặc biệt với viêm xoang sau có pôlip mũi xoang đưa tới tổn thương chức năng của toàn bộ viêm mạc đường hô hấp (cả trên và dưới) rất khó hồi phục, thường đưa tới tắc nghẽn đường hô hấp làm cho khi thực hiện phẫu thuật xoang để đưa tới tái phát.
  • Viêm xoang mạn ở những người có cơ địa dị ứng, hen xuyễn hay đã bị cơ hen xuyễn làm cho các bệnh này tăng nặng hơn, các cơn hen xảy ra nhiều hơn, và dễ đưa tới các cơn hen xuyễn nguy kịch với khó thở nặng, cơn kéo dài, khó cắt được cơn trong điều trị.

– Viêm tai giữa: là biến chứng rất hay gặp nhất là viêm tai giữa ở trẻ em. Thực ra niêm mạc tai giữa cũng là niêm mạc đường thở trên mũi xoang nên ngay trong viêm xoang cấp hay các đợt cấp của viêm xoang niêm mạc tai giữa cũng bị viêm. Với các viêm xoang sau mủ mạn: mủ chảy từ lỗ mũi sau xuống vòm họng luôn đọng lại ở gờ lỗ vòi tai, khi khịt khạc mủ qua lỗ vòi tau lên hòm tai gây viêm tai giưa, đặc biệt vơi trẻ nhỏ ống vòi tai ngắn, rộng lại nằm ngang hơn so với người lớn nên mủ, dịch lại càng dễ xâm nhập vào hòm tai hơn. Hai thể viêm tai giữa cần lưu ý:

  • Viêm tai giữa cấp mủ: Với các dấu hiệu: sốt, đau tức ở trong tai, với trẻ nhỏ thường có rối loạn tiêu hóa như ỉa chảy, nôn chớ, nếu không được khám phá hiện kịp thời mủ ứ tích trong hòm tai làm màng tai bị thủng, rách để thoát ra ống tai, có thể đưa tới viêm xương chũm cấp với các tai biến nguy hiểm.
  • Với viêm tai giữa ứ dịch: là biến chứng được đặc biệt quan tâm lưu ý do các triệu chứng dễ bỏ qua không nổi bật, với ù tai, tức hoặc nhói trong tai, ít khi có sốt đau rõ rệt, không gây chảy mủ tai nên với trẻ nhỏ thường không được biết đến, với người lớn vì cũng chỉ xuất hiện trong một vài ngày, từng lúc rồi qua đi. Tuy nhiên, bệnh vẫn tồn tại, đưa tới nghe kém ngày càng tăng, nếu không được khám, phát hiện có thể đưa tới điếc, ảnh hưởng đến giao tiếp rõ rệt. Lưu ý, theo tổ chức thính học quốc tế hiện viêm tai giữa ứ dịch là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm tăng tỷ lệ người điếc: do trẻ em khó phát hiện, người lớn bị một bên hay thiếu lưu ý đến cũng dễ bỏ qua, khi biết là điếc đã quá chậm.

2. Biến chứng mắt

Do mắt ở sát, dọc theo các xoang, lại chỉ được phân cách bởi thành xương mỏng, với xoang sàng thành xương rất mỏng được gọi là xương giấy, mắt lại có ống nước mắt thông xuống mũi, chạy sát vào xoang nên các viêm xoang rất thường đưa tới biến chứng ở mắt. Để đơn giản có thể chia các biến chứng ở mắt do viêm xoang làm 3 loại:

– Tổn thương ở phần trước mắt

  • Thường gặp nhất là viêm kết mạc: mắt đỏ, có dử mắt, cay, chảy nước mắt – với trẻ em hầu như xuất hiện và mất đi theo các đợt viêm xoang cũng có thể đưa tới viêm kết mặc với mờ mắt.
  • Viêm túi lệ, viêm bờ mi: cũng thường gặp với cục dử ở khóe trong mắt, hình thành nhanh nhất là sau khi ngủ dậy, dử mắt dọc theo bờ mi gây mắt luôn kèm nhèm, ướt, dính, nước mắt thường chảy giàn dụa, ngược lại nếu viêm gây tắc ống nước mắt sẽ gây khô mắt, ảnh hưởng đến nhìn.

Viêm tấy mủ: gặp ở trẻ nhỏ do viêm xoang sàng cấp mủ do vách xương sàng rất mỏng (xương giấy) nên mủ ở xoang sàng gây viêm tấy, phù nề mi mắt làm khó mở mắt, mi mọng tím, ấn đau.

– Rò rỉ mi mắt: chỉ gặp ở trẻ nhỏ, có thể ở trẻ dưới 1 năm tuổi, mủ từ xoang sàng phá vỡ vách xương thành túi mủ dưới da vùng khóe mắt trong sau vỡ thành lỗ rò ra ngoài ở mi trên hoặc mi dưới. Viêm xoang hàm cấp ở hài nhi hay đúng hơn là cốt tủy viêm xương hàm trên gây lỗ rò ở mi dưới vùng má. Các lỗ rò không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ do tạo thành sẹo mà còn ảnh hưởng rõ đến mắt do mi mắt bị sẹo co kéo làm cho không khép được mắt kín, ngay cả khi ngủ, lâu dài gây khô mắt, sẹo kết mạc ảnh hưởng nhiều đến sức nhìn.

– Tổn thương trong ổ mắt: tuy là các biến chứng ít gặp nhưng rất dễ đưa tới hỏng, mất do phải khoét bỏ ổ mắt bị viêm tấy mủ.

Với trẻ em, chủ yếu là trẻ dưới 2 – 3 tuổi, tuy cũng gặp ở trẻ lớn hơn do viêm tấy mủ xoang sàng, phá vỡ vách xương giấy làm mủ rò ra vào trong ổ mắt gây đau nhức mắt rõ rệt, mắt bị lồi ra ngoài, cả mi trên, mi dưới đều sưng nề, mở mắt khó, liếc mắt bị hạn chế, sức nhìn giảm đi nhanh đưa tới mất khả năng nhìn.

Với người lớn chủ yếu là do viêm xoang trán tấy mủ, thường gặp sau chấn thương, tắc ống thông trán – mũi. Mủ ứ đọng trong xoang trán có thể phá vỡ thành dưới xoang vào ổ mắt hoặc bên ngoài ổ mắt cũng gây các triệu chứng như trên.

Vì các viêm tấy mủ trong ổ mắt ảnh hưởng nghiêm trọng nên cần nhập viện, phối hợp điều trị tích cực nội khoa và ngoại khoa, giữa Tai Mũi Họng và Mắt. Lưu ý phát hiện sớm, coi là cấp cứu vì nếu để muộn có thể không cứu được mắt bị viêm mủ nặng.

– Viêm thần kinh mắt còn gọi là viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu là một biến chứng cần được đặc biệt lưu ý vì có thể gây , khó chuẩn đoán vì các triệu chứng ít và không rõ ràng.

Người mắc thường bị mờ mắt đột ngột, có thể một bên hoặc cả hai bên (tối vẫn nhìn bình thường, sáng dậy thấy nhìn mờ, không rõ) mức độ mờ tùy từng người nhưng có đặc điểm mờ mắt ngày càng tăng, sau một thời gian (có thể chỉ vài ngày) sức nhìn giảm hoặc mất hẳn. Ngoài mờ mắt hầu như không có triệu chứng gì: không đau mắt, không có dấu hiệu ruồi bay (các vật đen di chuyển ở mắt), không có ám điểm (vùng đen không nhìn rõ), không lồi mắt, hoa mắt, … các dấu hiệu viêm xoang cũng không rõ: không sốt, đau nhức vùng xoang hay ngạt tắc mũi tăng – thường gặp ở người bị viêm xoang mạn với dấu hiệu hay khịt khặc mũi, có mũi nhầy, mủ chảy xuống họng, có thể có nhức đầu âm ỉ vùng gáy hoặc đôi lúc có dấu hiệu nhìn mờ từng lúc.

Biến chứng thường gặp ở các trường hợp viêm xoang sau mạn không rõ rang, không nặng, thậm chí không được biết đến, ít gặp ở người bị viêm xoang cấp hay đợt cấp với sốt, đau, chảy mủ đặc nhiều hay các viêm xoang mạn có pôlip rõ. Ngay khi chụp Xquang, kể cả phim cắt lớp vi tính cũng chỉ cho thấy cả tổn thương ở xoang, chủ yếu là xoang sàng sau nhẹ như dày viêm mạc, có dịch, …

Do đó, việc chuẩn đoán đòi hỏi có sự phối hợp tốt giữa thầy thuốc mắt (bệnh nhân thường đến khám mắt là chính) và thầy thuốc Tai Mũi Họng.

Các trường hợp viêm thần kình mắt do viêm xoang sau nếu được phẫu thuật (đơn giản chỉ mở, nạo xoang sàng sau) thường đưa tới kết quả khả quan, sức nhìn có thể hồi phục hoàn toàn.

Cần nhớ chỉ phẫu thuật xoang khi xác định không có các bệnh gây mờ mắt như: thiên đầu thống, đục thủy tinh thể, xuất huyết vọng mạc …

Khi mờ mắt cần đến khám xác định ngay vì nếu sau xuất hiện mờ mắt hàng tháng sẽ đưa tới thoái hóa thần kinh mắt, kết quả phẫu thuật sẽ rất hạn chế hoặc không tác dụng.

3. Biến chứng sọ não

Là những biến chứng nguy hiểm đến tính mạng. Hiện nay ở nước ta rất ít gặp biến chứng sọ não do viêm xoang. Tuy nhiên, theo các tài liệu ở các nước Âu – Mỹ, biến chứng ọ não do ciêm xoang gặp tương đương với do viêm tai; có thể do ở nước ta còn chưa phát hiện được đầy đủ nhất là trong tình trạng cấp cứu nguy hiểm.

Các biến chứng sọ não thường được kể đến là:

– Viêm màng não do viêm xoang: có thể do viêm xoang cấp hay đợt cấp của viêm xoang mạn, thường với các xoang sàng, trán hay trán sàng, đặc biệt sau chấn thương xoang.

Các triệu chứng viem màng nào thường rõ rệt ở trẻ em, có thể tiềm tang ở người có tuổi. Do viêm màng não xuất hiện đột ngột, với các triệu chứng rõ rệt như sốt cao, nhức đầu dữ dội, nôn nhiều hoặc mê sảng, li bì nên ít quan tâm đến các dấu hiệu của viêm xoang. Điều trị viêm màng não cấp thường qua khỏi dễ nên khó xác định là biến chứng ngay trong đợt đầu.

Cần lưu ý:

  • Viêm màng não do viêm xoang dễ bị tái phát, nếu lưu ý sẽ thấy viêm màng não xuất hiện một vài ngày sau đợt cấp của viêm xoang (chảy mũi mủ, ngạt tắc mũi …)
  • Các trường hợp chấn thương xoang tuy đã qua khỏi nhưng thỉnh thoảng có chảy nước não tủy qua mũi, có thể chỉ chảy khi để đầu ở một tư thế nào đó nếu xuất hiện viêm màng não cần lưu ý phát hiện do tổn thương ở xoang.

Với viêm màng nào do viêm xoang sau khi điều trị viêm màng não ổn định cần phẫu thuật xoang loại trừ bệnh tích, bịt lấp lỗ rò, rách màng não để tránh tái phát.

– Viêm tĩnh mạch xoang hang do viêm xoang: tĩnh mạch xoang hang là tĩnh mạch lớn nằm ép ở hai bên phía trước não, tĩnh mạch này nhận máu từ các tĩnh mạch mũi xoang nên có thể bị viêm trong các viêm cấp hay đợt cấp của viêm xoang. Khi bị viêm có các dấu hiệu khá rõ rệt: sốt cao 40 – 410C, thường có cơn rét run, thể trạng nhiễm trùng rõ: mệt mỏi, li bì, mạch nhanh, môi khô …, nhanh chóng có các dấu hiệu ở mắt như phù nề mắt, mắt bị lồi ra trước, ấn đau, liếc mắt hạn chể, nặng hơn mi mắt bầm tím, nổi mạch rõ, mắt lồi to, không đưa qua đưa lại được, mờ mắt rõ …

Biến chứng viêm mắt là viêm mắt tĩnh mặt hang không chỉ tác động trầm trọng đến mắt mà còn đưa tới tình trạng nhiễm trùng máu, viêm màng não … nên phải được coi là cấp cứu nguy hiểm, điều trị tại các cơ sở mắt hay Tai Mũi Họng có điều kiện, theo dõi sát cao.

– Áp xe não do viêm xoang: các xoang trán, xoang sàng có liên quan chặt chẽ với hố não trước nên viêm xoang này có thể đưa tới ổ mủ trong não.

Lưu ý: do vị trí ổ mủ chủ yếu ở hố não trước thùy trán nên áp xe não do xoang có những đặc điểm khó phát hiện hơn áp xe não do tai (ổ hố não giữa hay hố não sau). Thùy trán không có chức năng vận động hay giác quan nên áo xe não thùy trán không gây liệt tay, chân hay nửa người (thường gặp do tai nạn), cũng không gây cấm khẩu, điếc.

Áp xe thùy trán gây các biến đổi về tâm thần, tri giác như lú lẫn, nói mê, mộng du (đi không chủ động), ảo thanh (nghe những tiếng không có thật), ảo thị (nhìn những hình ảnh không có thật như cháy nhà, tai nạn xe …) do đó phải lưu tâm mới phát hiện được, khi nghi ngờ cần chụp vi tính cắt lớp sọ não để phát hiện ổ áp xe. Nếu có ổ áp xe cần phẫu thuật lấy bỏ hay dẫn lưu ổ mủ.

TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM XOANG

THUỐC GIA TRUYỀN BẢO PHÚC – Hơn 100 năm kinh nghiệm gia truyền đặc trị bệnh viêm xoang mũi.

Bài thuốc chữa bằng phương pháp xông bằng thảo dược đi sâu vào các hốc xoang, đào thải triệt để các dịch mủ viêm nhiễm, khôi phục hoàn toàn hoạt động sinh lý bình thường của xoang.

Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp tất cả các thắc mắc, tư vấn và hỗ trợ thêm cho quý vị về bệnh viêm xoang và thuốc chữa viêm xoang qua các số điện thoại:

Số điện thoại tư vấn:

0167.472.8979Bác Dinh hoặc 0988.264.382Anh Thọ.

Kính chúc quý vị và gia đình nhiều sức khỏe, hạnh phúc!

Thuốc gia truyền Bảo Phúc / ST